Cách nhìn vào hiện tượng đồng tính

Nhiều người cho rằng hiện tượng đồng tính là một lựa chọn muốn có một lối sống khác thường. Văn hóa Hoa Kỳ đã một thời cho rằng đồng tính là một dạng bệnh tâm thần. Tuy nhiên càng gần đây, hiện tượng đồng tính ngày càng được khoa học cung cấp thêm những dữ liệu cần thiết, giúp cải thiện dư luận và tăng thêm những hiểu biết căn bản.

Trước thế kỷ XX, đồng tính được Âu Mỹ cho là có tội và là dị giáo (xét trong bối cảnh tôn giáo). Những người bị kết án là dị giáo thường bị cáo buộc là người đồng tính và bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Vào thế kỷ XX, theo Bulloughs (1997), hiện tượng đồng tính được coi là những người mắc bệnh với mô hình y học.

>>> Xem thêm: Quần lót : “Đừng để rách thì mới thay cái mới”Bệnh rối loạn cương dương ở nam giới

Thomas Szasz (1965) cho rằng mô hình y học không phục vụ con người dựa trên tinh thần nhân văn và ông cho rằng dư luận và xã hội cần có một cái nhìn nhân bản hơn với hiện tượng đồng tính. Theo ông điều đó vừa có ý nghĩa xây dựng và tôn trọng, phù hợp với thực tế và nguyện vọng của những người đồng tính. Không một người đồng tính nào muốn mình bị đối xử hay coi mình là người bị ốm hay có bệnh tật cả.

Không một người đồng tính nào muốn mình bị đối xử hay coi mình là người bị ốm hay có bệnh tật cả.

Theo cứ liệu của Freud (1920) và được nghiên cứu bổ sung bởi Rosen (1974) đã có kết luận phân tích dựa vào tâm lý liệu pháp cho thây giới đồng tính có những rối loạn tâm thần và khả năng thích ứng tinh thần rất thấp, tuy nhiên họ không vạch ra được nguyên do của hiện tượng này.

So với nhóm tình dục khác phái, giới đồng tính quả nhiên có những số lần tự tử cao hơn và khả năng thích ứng với điều kiện sinh hoạt thấp hơn.

Tuy nhiên điều này có thể xảy đến từ môi trường xung quanh thiếu những quan tâm và ủng hộ. Và vì thế, đâu là nguyên nhân và đâu là hệ quả đã trở nên khó truy cứu.

Câu chuyện con gà có trước hay quả trứng có trước trong vấn đề này vẫn là một nan đề nhức đầu cho những ai nóng vội muôn biết chân tướng câu chuyện xem thật sự chuyện gì đã đang xảy ra. Tuy nhiên những dữ kiện thu thập của Freud và Rosen chỉ lấy từ môi trường trị liệu.

Câu chuyện con gà có trước hay quả trứng có trước

Ross (1988) và Rothblum (1994) nghiên cứu vấn đề đồng tính nơi những người bình thường (không thuộc môi trường trị liệu) cho biết không có sự khác biệt về khả năng thích ứng giữa người đồng tính và người hoạt động tình dục khác phái.

Trước năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA) đã gạt bỏ hiện tượng đồng tính ra khỏi danh mục những rối loạn tâm thần trong cẩm nang chẩn đoán các rối loạn tâm thần DSM-IV  (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder). Trước 1973, đồng tính được coi là một rối loạn nhân cách.

YVichstrom và Hegna (2003) nghiên cứu cho thấy 9.1% các trẻ đồng tính ở lứa tuổi dậy thì có hành vi tự tử so với 3.6% các trẻ tính dục khác phái, vấn đề được đặt ra là tuy cao hơn gần 3 lần nhưng 90.9% các em đồng tính đã không tự tử, vậy vấn đề này cần được giải thích ra sao?

Phải chăng nhiều em là nạn nhân của những đối xử phân biệt hà khắc nên rơi vào ngõ cụt bế tắc, không tìm thấy định hướng sáng sủa nên phạm phải quyết định sai lầm trong lúc bức xúc nhất thời.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *